Các vấn đề về bảo vệ dữ liệu trong quá trình phát triển đô thị thông minh: Tiềm năng và thách thức

By tuananh · March 9, 2019

Các vấn đề về bảo vệ dữ liệu trong quá trình phát triển đô thị thông minh: Tiềm năng và thách thức

Author’s Information:
Phạm Minh Thành - Technical University of Darmstadt
Hồ Trúc Chi - Ho Chi Minh City University of Social Sciences and Humanities

1. Bảo vệ dữ liệu và các khái niệm liên quan

Từ những năm 1960, với sự hỗ trợ từ công nghệ thông tin,  các doanh nghiệp cũng như tổ chức chính phủ bắt đầu thực hiện quá trình tin học hóa bằng cách thu thập, ghi nhận và lưu trữ dữ liệu. Tùy thuộc vào tổ chức và các bên liên quan, dữ liệu về công dân, khách hàng, thương mại, điều hành và nhiều hoạt động khác có thể được kết hợp để khai thác thông tin cho các tác vụ phù hợp, hoặc phát triển thành tri thức mới đóng góp cho quá trình phát triển. Dữ liệu được cấu trúc hóa (structured data) và được lưu trữ trong những hệ thống cơ sở dữ liệu máy tính (computerized database system). Thông qua các hệ thống cơ sở dữ liệu này, dữ liệu có thể được tìm kiếm, chỉnh sửa, tham chiếu, tổng hợp và chia sẻ một cách hiệu quả và nhanh chóng.

Hình 1: Từ dữ liệu đến tri thức

Trên thực tế, nhiều tổ chức, chính phủ và doanh nghiệp đã tận dụng ưu thế về việc kiểm soát dữ liệu để hỗ trợ và mở rộng các hoạt động của mình. Mặc dủ các hoạt động này mang lại nhiều tiện ích cho các bên, những đối tượng được thu thập dữ liệu thường không được lấy ý kiến cũng như thiếu nhận thức về việc dữ liệu liên quan đến mình sẽ được sử dụng ra sao. Với việc các ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu ngày càng trở nên phổ biến cùng với nhiều vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng dữ liệu xảy ra trong thời gian gần đây, các chủ đề về bảo vệ dữ liệu đã và đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhiều câu hỏi liên quan đến tính riêng tư và bảo mật của dữ liệu được đặt ra:

Để có thể trả lời những câu hỏi trên cũng như giải quyết những vấn đề tồn đọng về bảo vệ dữ liệu, nhu cầu lập ra một bộ quy định mang tính pháp lý về bảo vệ dữ liệu trở nên cấp thiết. Quá trình bảo vệ dữ liệu được hiện thực hóa thông qua những bộ luật quy định về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Những bộ luật này được soạn thảo dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau [1]:

Các giai đoạn xử lý dữ liệu và thông tin cá nhân (bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, ghi nhận, tổ chức, cấu trúc, lưu trữ, chỉnh sửa, truy xuất và phân phối dữ liệu) cần đạt được sự đồng thuận giữa các bên liên quan cũng như phải được kiểm soát bởi bên thứ ba dưới sự ủy quyền của các tổ chức hay cá nhân mang tính pháp lý. Các quy định này đóng góp vai trò quan trọng trong việc hạn chế và định hình các hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ. Mục tiêu của chúng là  trao quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân về phía người dân hoặc khách hàng.

2. Tầm quan trọng của bảo vệ dữ liệu

Sự phát triển của dữ liệu gắn liền với quá trình phát triển và phổ biến Internet, truyền thông cũng như các ứng dụng công nghệ thông tin. Dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực. Bên cạnh những lợi ích mang lại, khía cạnh bảo mật của dữ liệu là chủ đề gây tranh cãi trong nhiều năm qua. Trong nhiều trường hợp, quá trình ghi nhận và thu thập dữ liệu được tiến hành mà không có thông báo đến các đối tượng liên quan hoặc bên liên quan không ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình về dữ liệu, dẫn đến các nguy cơ về rò rỉ hoặc lạm dụng dữ liệu, bao gồm cả các dữ liệu và thông tin mang tính nhạy cảm.

Quá trình bảo vệ dữ liệu bao gồm các hoạt động phòng ngừa việc lạm dụng dữ liệu cũng như triển khai các biện pháp kiểm soát đặt ra các yêu cầu về chi phí, thời gian, công sức cũng như năng lực phân  phối nguồn lực sẵn có. Các yêu cầu này chỉ có thể được cụ thể hóa khi các đối tượng liên quan nhận thức được lý do cần thiết đẻ bảo vệ dự liệu. Những lý do phổ biến bao gồm:

Việc cải thiện quy trình xử lý dữ liệu để đáp ứng việc tuân thủ các bộ luật sẽ đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho các thực thể và đối tượng liên quan, cũng như nâng cao nhận thức của các thành phần trong nền kinh tế về tầm quan trọng của dữ liệu.

3. Vai trò của GDPR trong phát triển đô thị thông minh

GDPR (General Data Protection Regulation) là bộ quy định chung về bảo vệ dữ liệu được ban hành bởi EU và đã chính thức có hiệu lực từ tháng 5/2018. Bộ luật này ra đời để thay thế cho chỉ thị bảo vệ dữ liệu (Data Protection Directive) 95/46/EC trong việc cân bằng và thúc đẩy việc bảo vệ dữ liệu riêng tư của công dân EU cũng như thay đổi cách tiếp cận vấn đề của các tổ chức liên quan về quyền riêng tư dữ liệu. Bên cạnh những điều khoản bắt buộc, các quốc gia thành viên cũng có thể sửa đổi các quy định về quyền riêng tư dữ liệu ở một số lĩnh vực cụ thể sao cho phù hợp. So với những bộ luật trước đó, GDPR mang tính bao quát và chính xác hơn, đồng thời chú trọng hơn về dữ liệu cá nhân.

Hình 2: GDPR - Công cụ pháp lý để bảo vệ dữ liệu (Nguồn: SB_photos/Shutterstock.com)

Với mục tiêu bảo vệ thông tin cá nhân của tất cả công dân EU trong một xã hội hướng dữ liệu (data-driven) như hiện nay, GDPR mang đến nhiều thay đổi so với những bộ luật cũ như chỉ thị 95/46/EC vốn đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế do được ban hành từ năm 1995, thời kì mà bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin còn khác xa so với thời điểm hiện tại [6]. Trong đó, các quy định về điều kiện cho sự đồng thuận (consent) được thắt chặt hơn thông qua việc yêu cầu các tổ chức liên quan đến việc xử lý dữ liệu phải đưa ra các điều khoản một cách rõ ràng và có thể truy cập được khi tiến hành lấy ý kiến đồng thuận từ các đối tượng liên quan. Ngoài ra, GDPR cũng đưa ra các điều khoản về quyền chủ thể dữ liệu (Data Subject Rights) để trao vai trò điều khiển dữ liệu (data controller) về tay người dùng. Thông qua các điều khoản này, các tác vụ xử lý dữ liệu dẫn đến nguy cơ rò rỉ thông tin và ảnh hướng đến quyền tự do cần phải được cảnh báo đến các cá nhân liên quan. Đồng thời, các cá nhân kể trên phải được trao quyền xác nhận việc thông tin về họ sẽ được sử dụng khi nào, ở đâu và cho mục đích gì. Các chủ thể dữ liệu này cũng có quyền yêu cầu xóa bỏ dữ liệu (Data Erasure) liên quan đến họ cũng như cắt quyền truy cập và sử dụng thông tin của họ từ các nhóm tổ chức xử lý dữ liệu hay bên thứ ba. Bên cạnh đó, điều khoản 23 trong GDPR cũng kêu gọi giới hạn quyền sử dụng dữ liệu để dữ liệu chỉ được khai thác và sử dụng trong những trường hợp thật sự cần thiết. Xét trên toàn cục, GDPR cung cấp các điều khoản quy định về xử lý và bảo vệ dữ liệu một cách toàn diện và chính xác, cũng như đưa ra mức phạt cao cho các bên không tuân thủ. [7]

Trong những năm gần đây, khái niệm thành phố thông minh (smart city) hoặc các thuật ngữ tương tự đang ngày càng trở nên phổ biến trên các phương tiện truyền thông cũng như trở thành xu hướng phát triển ở nhiều nơi trên thế giới. Mặc dù vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ này, nhưng nhìn chung, thông qua ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communications Technology – ICT), dữ liệu về các hoạt động của người dân sẽ được thu thập hoặc tạo ra từ các thiết bị IoT (Internet of Things) theo thời gian thực (real-time tracking) để hỗ trợ cho đa dạng các lĩnh vực, từ kinh doanh hay thương mại điện tử (E-business hay E-commerce), dịch vụ trực tuyến (online service) cho đến các mô hình như chính phủ điện tử (E-government). Từ đó, các thành phần trong hệ thống đô thị phức tạp sẽ được kết nối và tương tác với nhau nhằm cắt giảm chi phí và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Xu hướng gia tăng xử lý dữ liệu trong phát triển đô thị nói chung và ở các lĩnh vực liên quan nói riêng mang hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nhưng cũng đồng thời mang đến nhiều lo ngại về quyền riêng tư. Do đó, GDPR trở thành một công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển dài hạn của nền kinh tế và quản trị số (digital economy). Cụ thể hơn, điều 5 của GDPR quy định rằng dữ liệu cá nhân phải đầy đủ, mang tính liên quan và chỉ giới hạn trong mục đích sử dụng cần thiết, qua đó có thể hiểu rằng các hoạt động thu thập dữ liệu cá nhân của công dân trong quá trình phát triển đô thị thông minh cần phải đảm bảo về tính chính xác cũng như giới hạn cho một mục đích cụ thể nào đó. Thời gian lưu trữ thông tin cũng phải có thời hạn  nhất định. Trong trường hợp dữ liệu được sử dụng cho mục đích công cộng, ví dụ như xây dựng mô hình giao thông, thì các thông tin đó phải mang tính ẩn danh. Những trường hợp phục vụ cho mục đích công cộng kể trên được quy định chi tiết hơn trong điều 6 của bộ luật. Ngoài ra, điều 32 trong GDPR còn tính tới chi phí triển khai, phạm vi, bối cảnh và mục đích cho việc xử lý dữ liệu, vốn trước đây chỉ được triển khai thông qua các bộ tiêu chuẩn về an toàn thông tin từ ISO/IEC 27000. [8]

Mặc dù có một số ý kiến cho rằng GDPR sẽ làm chậm tốc độ thông minh hóa đô thị, trên thực tế, với việc khai thác và sử dụng dữ liệu trên mọi lĩnh vực phát triển, việc liên kết quá trình phát triển với các đạo luật về bảo vệ dữ liệu như GDPR là không thể tránh khỏi. Trong bối cảnh Việt Nam đang đưa ra chủ trương về xây dựng và phát triển đô thị thông minh, các nhà làm luật cần chú ý để đưa ra những đạo luật và điều chỉnh phù hợp để đảm bảo tính an toàn của dữ liệu, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi của mình, cũng như trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xử lý dữ liệu.

Tài liệu tham khảo

[1] Kyriazoglou, J. (2010). IT strategic and operational controls. Ely, Cambridgeshire: IT Governance Pub.

[2] Banisar, D. (2018). National Comprehensive Data Protection/Privacy Laws and Bills 2018. Retrieved from https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1951416

[3] Greenleaf, G. (2017). Global Data Privacy Laws: 89 Countries, and Accelerating. Retrieved from https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=2000034.3

[4] Ponemon Institute Releases 2014 Cost of Data Breach: Global Analysis. (2018). Retrieved from https://www.ponemon.org/blog/ponemon-institute-releases-2014-cost-of-data-breach-global-analysis

[5] https://tdwi.org/Home.aspx

[6] Official Journal of the European Union L281, 23/11/1995 P.0031-0050

[7] Key Changes with the General Data Protection Regulation – EUGDPR. (2018). Retrieved from https://eugdpr.org/the-regulation/

[8] ISO/IEC 27001 Information security management. (2018). Retrieved from https://www.iso.org/isoiec-27001-information-security.html


← All articles